Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Nhằm tạo diễn đàn trao đổi ý kiến giữa các cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và các bên liên quan, góp phần đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hiệu quả ngành sắn gắn với quản lý rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và giảm nguy cơ mất rừng do hoạt động sản xuất sắn, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends đã phối hợp tổ chức cuộc họp với chủ đề Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”.

Chương trình được tổ chức vào sáng ngày 28/01/2026 tại Hà Nội. Tại cuộc họp, các đại biểu đã được cung cấp thông tin tổng quan về ngành sắn Việt Nam, thực trạng chuỗi cung ứng, cũng như những vấn đề đặt ra liên quan đến truy xuất nguồn gốc và tác động của sản xuất sắn đối với tài nguyên rừng. Đồng thời, cuộc họp tập trung thảo luận các thách thức và giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững của ngành sắn trong bối cảnh mới.

Cuộc họp bàn về chuỗi cung ứng ngành nông sản Việt Nam, với sự tham gia của nhiều đại biểu tại một phòng hội nghị.

Cuộc họp có sự tham dự của đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, gồm: Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cục Kinh tế Hợp tác và Chế biến; cùng các đơn vị nghiên cứu, đào tạo như Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, cuộc họp còn có sự tham gia của đại diện Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất nhập khẩu sắn, các tổ chức quốc tế và cơ quan thông tấn báo chí.

Ngành sản xuất, chế biến và thương mại sắn (ngành sắn) là một ngành có đóng góp đáng kể trong thương mại hàng hóa nông nghiệp của Việt Nam. Sắn hiện là một trong những cây trồng quan trọng đối với sinh kế của khoảng 1,2 triệu hộ nông dân, tập trung chủ yếu tại các vùng trung du, miền núi và khu vực khó khăn. Do nhu cầu về sắn nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ sắn, đặc biệt là tinh bột sắn và sắn lát khô, trên thị trường quốc tế và nội địa tăng. Kim ngạch tiêu dùng nội địa và đặc biệt xuất khẩu ngành sắn của Việt Nam tăng mạnh và đã đạt khoảng 1,3 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới, sau Thái Lan. Hiện nay, ngành sắn đã đầu tư sản xuất thân thiên với môi trường, sản phẩm khả năng ứng dụng nhiều hơn.

Việt Nam vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực, với nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho chế biến từ cả sản xuất trong nước và nhập khẩu. Tổng lượng cung sắn nguyên liệu của Việt Nam hàng năm đạt trên 18 triệu tấn tươi, trong đó, nguồn cung trong nước chiếm khoảng 58%, 42% còn lại là từ nhập khẩu với nguồn cung từ Lào và đặc biệt từ Campuchia chiếm gần 100% lượng nhập khẩu. Nguồn cung trong nước đến từ hơn 500 nghìn ha diện tích trồng sắn, cung cấp trên dưới 10 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Nguồn cung nhập khẩu hàng năm tương đương 8 triệu tấn sắn tươi. Những năm gần đây diện tích trồng sắn cả nước nhìn chung có xu hướng giảm nhẹ. Tuy nhiên tại một số địa phương nơi có các diện tích rừng, diện tích sắn đang tiếp tục được mở rộng. Điều này làm dấy lên những quan ngại về mối liên hệ giữa mở rộng diện tích trồng sắn và tài nguyên rừng.

Biểu đồ chuỗi cung ứng sản phẩm tiểu vùng sông Mê Kông năm 2025 với các thông tin về nhập khẩu và xuất khẩu của Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia.

Các thị trường quốc tế ngày càng gia tăng yêu cầu đối với tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng. Một ví dụ gần đây nhất là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hiện đang được áp dụng với ngành cà phê, cao su và gỗ. Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đã và đang đưa ra những quy định mới nhằm ngăn chặn sản phẩm nông lâm nghiệp không có nguồn gốc rõ ràng, hoặc có quá trình sản xuất gây mất rừng và suy thoái rừng được nhập khẩu vào các thị trường này. Tại Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sắn quan trọng nhất của Việt Nam, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp nhập khẩu đang ngày càng đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm nhập khẩu. Sản phẩm sắn Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức trong việc đáp ứng các quy định này trong tương lai không xa.

Tiến sỹ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: “Khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc của ngành sắnViệt Nam nằm ở phần nguyên liệu, cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu.” Hiện tại, nguồn cung trong nước chủ yếu được trồng trên những diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về các hoạt động sử dụng đất, giao dịch giữa hộ và thương lái khiến việc truy xuất nguồn gốc khó khăn; nhiều trường hợp là không thể. Khó khăn trong luồng cung nhập khẩu tương tự: các doanh nghiệp nhập khẩu không biết hoặc không có thông tin về vùng trồng, thiếu bằng chứng về các giao dịch.

Một người đàn ông trung niên, mặc áo khoác đen với cổ lông, đang nói chuyện trong một cuộc họp. Trên bàn có tờ giấy ghi tên 'TS. Hà Công Tuấn' và chức vụ 'Chủ tịch Hội KHKT Nông nghiệp PTNT Việt Nam'.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn, nổi bật là Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, cùng với các cơ chế khuyến khích liên kết sản xuất, phát triển phù hợp. Tuy nhiên, việc triển khai các chính sách này trên thực tế còn nhiều hạn chế, thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu công cụ giám sát và chưa tạo được các động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng. Chính phủ cũng đã trọng tâm ưu tiên vào thực hiện việc truy xuất sản phẩm, trong đó nhấn mạnh mục tiêu năm 2026 các hàng hóa nông lâm sản của Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài cần thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro, chống mất rừng, duy trì thị trường xuất khẩu và đảm bảo sinh kế bền vững cho hàng triệu hộ trồng sắn trong tương lai.

Tiến sỹ Nguyễn Vinh Quang, cán bộ nghiên cứu của Forest Trends nêu quan điểm: “Để đảm bảo được việc truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần thực hiện việc tái cấu trúc chuỗi cung hiện tại, kiểm soát tốt khâu sản xuất, đặc biệt là các hoạt động sử dụng đất, chuyển đổi toàn bộ các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch các hoạt động trong chuỗi, đảm bảo đủ bằng chứng để thực hiện truy xuất.

Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam khẳng định: “Doanh nghiệp trong ngành cam kết hướng tới minh bạch chuỗi cung, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngành sắn rất cần có những hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan quản lý để đảm bảo thực hiện được các yêu cầu trên.”

Một người đàn ông đứng nói chuyện tại diễn đàn với giấy tờ trên tay, mặc áo khoác nhung màu tối.

Tái cấu trúc lại chuỗi cung theo hướng có thể thực hiện truy xuất đòi hỏi ngành cần nhận được những ưu tiên thỏa đáng từ Chính phủ và các cơ quan hữu quan. “So với các ngành hàng khác như cà phê, gỗ,… ngành sắn hiện chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ Chính phủ. Với 1,2 triệu nông hộ, bao gồm nhiều hộ đồng bào ở những vùng khó khăn, hiện đang tham gia khâu sản xuất, ngành sắn xứng đáng nhận được sự quan tâm cao của Chính phủ.” Tiến sỹ Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends nêu quan điểm.

Qua các ý kiến trao đổi tại cuộc họp, các đại biểu thống nhất cho rằng việc tái cấu trúc chuỗi cung ngành sắn theo hướng minh bạch, hợp pháp và có khả năng truy xuất nguồn gốc là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện các cam kết về bảo vệ rừng và phát triển nông nghiệp bền vững. Để đạt được mục tiêu này, ngành sắn cần sự quan tâm, ưu tiên và hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ Chính phủ và các cơ quan quản lý, đặc biệt trong việc hoàn thiện khung chính sách, ban hành hướng dẫn cụ thể, xây dựng công cụ giám sát và tạo động lực cho các tác nhân trong chuỗi cung ứng tham gia thực hiện.

Cuộc họp đã góp phần làm rõ những thách thức cốt lõi của chuỗi cung ngành sắn hiện nay, đồng thời mở ra các định hướng hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các đối tác quốc tế nhằm thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, giảm thiểu rủi ro mất rừng, bảo vệ môi trường và đảm bảo sinh kế bền vững cho hơn một triệu hộ trồng sắn. Đây được xem là tiền đề quan trọng để ngành sắn Việt Nam phát triển ổn định, bền vững và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.